Dưới đó là lời giảng Quẻ sơn Thủy Mông theo sách "Kinh dịch - Đạo của fan quân tử" của học trả Nguyễn Hiến Lê


*

:|:::| tô Thủy Mông (蒙 méng)

Quẻ tô Thủy Mông, còn gọi là quẻ Mông (蒙 meng2), là quẻ thứ 04 trong kinh Dịch.

Bạn đang xem: Quẻ sơn thủy mông

* Nội quái là ☵ (:|: 坎 kan3) Khảm = (水) Nước

* Ngoại quái là ☶ (::| 艮 gen4) Cấn = (山) Núi

Giải nghĩa: Muội dã. Bất minh. Tối tăm, mờ ám, ko minh bạch, đậy lấp, bao trùm, phủ chụp, ngu dại, ngờ nghệch. Thiên võng tứ trương bỏ ra tượng: tượng lưới trời giăng bốn mặt.

蒙: 亨, 匪我 求 童 蒙, 童 蒙 求 我 .

初 筮 告, 再 三 瀆, 瀆 則 不 告 .利 貞 .

Mông: Hanh, Phỉ ngã cầu đồng mông, đồng mông cầu ngã.

Sơ phệ cáo, tái tam độc, độc tắc bất cáo. Lợi trinh.

Dịch: Trẻ thơ được hanh khô thông. Ko phải ta tìm trẻ thơ mà trẻ thơ tìm ta. Hỏi (bói) một lần thì bảo cho, hỏi hai ba lần thì là nhàm, nhàm thì không bảo. Hợp với đạo chính thì lợi (thành công).

Giảng: Theo nghĩa của quẻ thì cấn là ngưng, Khảm là hiểm. Ở trong (nội quái) thì hiểm, mà ở ngoài (ngoại quái) thì ngưng, không tiến được, tỏ ra ý mù mờ, cho nên vì thế gọi là Mông.

Xét theo hình tượng thì ở trên có núi (Cấn), dưới chân núi có nước sâu (khảm), cũng có nghĩa tối tăm (Mông). Cũng có thể giảng là dưới chân núi có suối nước trong, tức như hạng người còn nhỏ (khi thành sông mới là lớn), hạng “đồng mông”, cho nên vì vậy gọi quẻ này là Mông (mông có nghĩa là non yếu).

Đặc biệt quẻ này chỉ chú trọng vào hào 2 và hào 5. Hào 2 là dương cương, đắc trung làm chủ nội quái, đáng là một vị thầy cưng cửng nghị, khải mông (tức mở sở hữu cái tối tăm) cho trẻ. Hào đó ứng với hào 5 âm nhu thuận mà cùng đắc trung, là tượng học trò ngoan. Vậy là thầy trò tương đắc, sự học hành tất có kết quả tốt, vì thế quẻ này có đức hanh hao thông.

Tư cách của thầy cương, của trò nhu, cho nên thầy không phải cầu trò, mà trò phải cầu thầy. Và khi dạy, trò hỏi một lần thì bảo, nếu hỏi 2, 3 lần thì là nhàm, ko bảo. Giữ được đạo chính (hoặc bồi dưỡng chính nghĩa) thì lợi thành công.

Hào từ:

1. 初 六: 發 蒙, 利 用 刑 人, 用 說 桎 梏, 以 往 吝.

Sơ lục: phát mông, lợi dụng hình nhân, Dụng thoát chất cốc, dĩ vãng lận.

Dịch: Hào 1, âm: mở sở hữu cái tối tăm (cho hạng người hôn ám) thì đề xuất dùng hình phạt cốt đến họ thoát khỏi gông cùm, dẫu vậy đừng đi quá mức sẽ hối tiếc.

Giảng: Hào âm này vị ở thấp nhất trong quẻ Mông là tượng kẻ hôn ám nhất, phải dùng hình phạt trừng trị mới cởi cái gông cùm (vĩ vật dục) mang lại họ được; lúc có kết quả rồi thì thôi, đừng quá dùng hình phạt mà sẽ ân hận.

Chữ: "dụng hình nhân", dịch sát là dùng người coi về hình, tức dùng hình phạt.

2. 九 二 . 包 蒙 吉 . 納 婦 吉 . 子 克 家 .

Cửu nhị: Bao mông cát, nạp phụ cát, tử khắc gia.

Dịch: Hào, dương: bao dong kẻ mờ tối, dung nạp hạng người nhu ám như đàn bà, tốt; (ở ngôi dưới mà gánh vác việc trên) như người con cai quản được việc nhà.

Giảng: Hào 2 dương, cưng cửng cường, tuy vậy đắc trung cho nên bảo là có đức bao dung; nó làm chủ nội quái, thống trị cả bốn hào âm, vì thế bảo nó dung nạp được các hào âm, tức hạng người nhu ám như đàn bà, nó ở dưới thấp mà lại là hào quan lại trọng nhất vào quẻ, phải ví nó như người nhỏ cai quản được việc nhà. Tóm lại hào này tốt.

Phan Bội Châu giảng bố chữ “tử khắc gia”cách khác: Cụ mang đến hào 5 ở địa vị tôn trong quẻ bên trên (ngoại quái) tức như thân phụ trong nhà, hào 2 ở dưới, tức như con. Phụ vương nhu nhược (vì là âm), con cương cường sáng suốt (vì là dương), cảm hóa được cha mà cha hết hôn ám, như vậy là con chỉnh lý được việc nhà.

Cao khô cứng chỉ đứng về phương diện bói, mà ko đứng về phương diện đạo lý, quán triệt Kinh Dịch có ý nghĩa triết lý, xử thế, do đó hiểu khác hẳn: giảng “nạp phụ” là cưới vợ cho nhỏ “tử khắc gia” là bé thành gia thất, đó là cái việc tốt của người làm bếp mắt ko có đồng tử (bao mông, theo ông là : bào mông, bào là người làm bếp, mông là mắt ko có đồng tử). Đại khái cách hiểu của Cao hanh khô như vậy, xin đối kháng cử làm thí dụ.

3. 六 三: 勿 用 取 女 見 金 夫 .

不 有 躬, 无 攸 利.

Lục tam: Vật dụng thủ nữ kiến kim phu.

Bất hữu cung, vô du lợi.

Dịch: hào 3, âm: đừng dùng hạng con gái thấy ai có vàng bạc là (theo ngay) ko biết thân mình nữa; chẳng có lợi gì cả.

Giảng: Hào 3 là âm nhu (ở trong quẻ Mông, là hôn ám) bất trung, bất chính, cho nên vì vậy ví với người con gái ko có nết, bất trinh, đê mê của. Mà hạng tiểu nhân thấy lợi quên nghĩa cũng vậy (âm còn có nghĩa là tiểu nhân). Phan Bội Châu mang đến hào này xấu nhất; hạng người nói vào hào không đáng dùng, không đáng giáo hóa nữa.

4. 六 四 : 困, 蒙, 吝 .

Lục tứ: Khốn, mông, lận.

Dịch: Hào 4, âm: Bị khốn trong vòng hôn ám, hối tiếc.

Giảng: Quẻ Mông chỉ có hào 2 và 6 là dương cương, có thể cởi mở sự hôn ám được, còn hào 4 tê đều là âm hết. Hào 4 này cũng hôn ám như hào 3, tuy nhiên còn tệ rộng hào 3 vì ở xa hào 2 dương (hào 3 còn được ở gần hào 2 dương ), mà bình thường quanh đều là âm hết (hào 3 và hào 5), như bị nhốt vào vòng hôn ám, tất bị khốn sẽ phải hối tiếc, xấu hổ.

Tiểu tượng truyện giảng: nó phải hối tiếc, xấu hổ vì chỉ một mình nó vào số bốn hào âm là ở xa các hào “thực” tức các hào dương. Hào dương là nét liền, ko khuyết ở giữa, phải gọi là “thực” (đặc, đầy) hào âm là vạch đứt, khuyết ở giữa bắt buộc gọi là “hư” ; “thực” tượng trưng người có lương trọng điểm “hư” tượng người ko có lương tâm.

5. 六 五: 童 蒙 吉 .

Lục ngũ: Đồng mông cát.

Dịch: Hào 5, âm: Bé con, chưa biết gì (nhưng dễ dạy), tốt.

Giảng: hào 5 này là hào âm tốt nhất như chúng tôi đã nói lúc giảng Thóan từ của Văn Vương, vì nó có đức nhu (âm) trung (ở giữa ngọai quái), lại ứng với hào 2 cưng cửng ở dưới, có thể ví nó với đứa trẻ dễ dạy, biết nghe lời thầy (hào 2).

Phan Bội Châu coi hào này như ông hoàng (vì ở ngôi cao quí nhất trong quẻ) biết tín nhiệm hiền thần (hào 2).

6. 上 九: 擊 蒙 不 利 為 寇 , 利 禦 寇.

Thượng cửu: Kích mông bất lợi vi khấu, lợi ngự khấu.

Dịch: Hào bên trên cùng, dương : phép trừ cái đần tối mà nghiêm khắc quá thì kẻ mình dạy dỗ sẽ phẫn uất, có thể thành giặc, như vậy không có lợi, ngăn ngừa giặc ở ngoài (tức những vật dục quyến rũ kẻ đó) thì có lợi.

Giảng: Hào này ở bên trên cùng quẻ Mông, có nghĩa sự lẩn thẩn tối tới cùng cực; nó là dương, ở trên cùng, mà bất trung, vì vậy tuy có tài mở mang sự dở hơi tối cơ mà quá nghiêm khắc, làm đến kẻ ngây ngô tối phẫn uất, phản kháng, bất tuân giáo hóa, có thể thành giặc, có hại (chữ “khấu có cả nhì nghĩa: giặc, có hại), đề nghị tìm cách chống ngừa những vật dục quyến rũ nó thì hơn; mà “cả thầy lần trò đều thuận đạo lý (thượng hạ thuận dã, Tiểu tượng truyện).

Xem thêm: Vì Sao Quần Thể Người Lại Có Một Số Đặc Trưng Mà Quần Thể Sinh Vật Khác Không Có

Quẻ này nói về cách giáo hóa, cần nghiêm (hào 1) nhưng tránh việc nghiêm khắc quá mà đề xuất ngăn ngừa lỗi của trẻ (hào 6).